Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2011

Suối Tiên lọt vào “Top” công viên được yêu thích nhất trên thế giới

Khu du lịch văn hóa Suối Tiên của Việt Nam vừa lọt vào danh sách 12 công viên được yêu thích nhất trên thế giới, do trang The Traveler zone bình chọn. Biển Tiên Đồng ở khu du lịch văn hóa Suối Tiên


Theo đó, vị trí số 1 thuộc về Công viên Magic Kingdom tại Disney World – Orlando, Florida (Mỹ) và tiếp sau là Công viên Quần đảo phiêu lưu – Florida (Mỹ); Công viên Cedar Point – Ohio (Mỹ); Công viên Epcot – Orlando (Mỹ); Công viên Blackpool Pleasure Beach – Lancashire (Anh); Công viên Cảng Aventura (Tây Ban Nha); Công viên Europa (Đức); Công viên Tivovi Gadens (Đan Mạch); Công viên Tokyo Disneyland (Nhật Bản); Công viên Ocean Park (Hong Kong) và Khu du lịch văn hóa Suối Tiên (Việt Nam).

Khu du lịch văn hóa Suối Tiên tọa lạc tại quận 9, TP HCM; chính thức mở cửa đón du khách vào ngày 2/9/1995, nhân kỷ niệm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam.

Đến Suối Tiên, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy phong cách kiến trúc và các thể loại vui chơi giải trí được gắn lồng vào các hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam như: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Vua Hùng, sự tích trăm trứng, Sơn Tinh Thủy Tinh, chính tầng địa ngục, tứ linh hội tụ Long - Lân - Quy - Phụng, công viên tâm linh, công viên giải trí dưới nước và đặc biệt là biển Tiên Đồng, biển nhân tạo đầu tiên ở Việt Nam.

Lạc cõi đá xưa

Ở Bắc Giang có một hệ thống các lăng tẩm bằng đá đã có tuổi hơn 300 năm nằm rải rác ở nhiều huyện, với hàng nghìn hiện vật đá được tạo tác công phu, thẩm mỹ, tới nay vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được giải mã.

Tượng người dắt ngựa ở lăng Dinh Hương - Ảnh: Kim Sa

Kiểu kiến trúc điển hình của các lăng mộ này là phía ngoài xây tường bao quanh bằng đá ong, bên trong có bia đá, xung quanh xếp đặt đăng đối tượng các quan hầu võ tướng, trước mộ là hồ nước, cây cối thâm u bao quanh lăng.

Nét độc đáo nhất ở các khu lăng mộ là các nhóm tượng với nhiều cách thể hiện phong phú, chỉ riêng tượng voi cũng có nhiều tư thế: ngồi, đứng, quỳ, phục, vòi cuộn lại, cổ đeo chuông...; tượng ngựa được tạc với đầy đủ yên cương, nhạc ngựa, lục lạc, ngò hoa, vải phủ, khăn thêu...; các tượng nghê và sấu được miêu tả rất có hồn.

Nằm trọn trong một khu đồi cao thuộc xã Đức Thắng (huyện Hiệp Hòa), ba bề bốn bên là đồng ruộng, lăng đá Dinh Hương được xây dựng năm 1727 dưới triều vua Lê Dụ Tông. Yên nghỉ tại khu lăng đá này là Quận công La Quý Hầu (La Đoan Trực), một võ quan thủy binh có nhiều công lao với triều đình, hai lần được nhà vua cử đi sứ phương Bắc. Năm 1740, dưới triều vua Lê Hiển Tông, La Quý Hầu cầm quân đi dẹp loạn ở các vùng thuộc đạo Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương.

Đến năm 1749 ông qua đời, thọ 61 tuổi, được vua phong phúc thần Trung Cẩn đại vương. Khu lăng đá được ông xây dựng từ khi còn sống, toàn bộ bằng đá xanh, được các hiệp thợ vùng Kinh Bắc đục chạm với những hình thù, họa tiết cầu kỳ. Đây là một trong những lăng đá hoành tráng và đẹp nhất tại Bắc Giang.

Chính diện khu lăng đá Dinh Hương với đôi nghê đá ngẩng cao đầu - Ảnh: Kim Sa

Được xây dựng năm 1697, đời vua Lê Hy Tông, lăng họ Ngọ (xã Thái Sơn, Hiệp Hòa) lưu giữ di hài Phương quận công Ngọ Công Quế. Theo các tư liệu lịch sử, Ngọ Công Quế là bậc văn võ song toàn, tư cách khoan hòa độ lượng, tận tâm phụng sự việc nước, hết lòng quan tâm giúp đỡ quê hương. Lăng được xây bằng đá muối và đá ong lấy ở núi IA cách đó khoảng 1,5km, do chính Ngọ Công Quế thuê thợ đục đá giỏi nhất vùng về làm.

Trên khu đất trước phần mộ là hai dãy tượng chầu đăng đối: hai con voi phục, hai cặp người dắt ngựa, hai con sấu bằng đá xanh. Phía sau hương án là cổng vào phần mộ có tường đá bao quanh cao 1,9m, cạnh hương án là hai con nghê ngẩng cao đầu ngồi chầu, trên nền cổng phần mộ chạm hai người đứng hầu. Ngoài những lăng đá kể trên, huyện Hiệp Hòa còn nhiều lăng đá hoành tráng khác như lăng họ Bùi, lăng họ Hà, lăng họ Ngọ, lăng họ Khổng...

Tham quan một vòng các lăng mộ, chúng tôi không khỏi xót xa cho các hiện vật đá quý giá nằm giữa những khu đất um tùm cỏ dại. Được biết, vài năm trước tỉnh Bắc Giang đã hỗ trợ kinh phí tu sửa, bảo vệ các khu lăng đá này nhưng nhiều công trình nay đã xuống cấp, thậm chí bị xâm hại: một số lăng đã không còn bức tường bao bằng đá ong như trước, một số tượng bị phá, có lăng mộ còn bị đào bới để tìm vàng và đồ quý giá (lăng Dinh Hương, lăng Nội Dinh...).

Tượng voi phục ở lăng Dinh Hương - Ảnh: Kim Sa

Hiệp Hòa là vùng đất địa linh nhân kiệt, có những dòng họ lớn với nhiều người đỗ đạt, làm quan lại, tướng lĩnh... như họ Ngô, Ngọ, Lê, Trần, Giáp, Dương, Khổng... từng rạng danh đất Kinh Bắc một thời.

Kinh Bắc (gồm Bắc Giang, Bắc Ninh) vốn có truyền thống khoa bảng, trong 73 khoa thi dưới thời nhà Lê (1554-1787), riêng Kinh Bắc có tới 199 người đỗ tiến sĩ làm quan lớn trong triều đình. Chính những vị này cuối đời về quê chọn đất xây lăng mộ làm chỗ nghỉ vĩnh hằng cho mình, cũng là nơi để dòng tộc thờ phụng.

Khi xây dựng lăng mộ cho chính mình, các chủ nhân đã đầu tư rất kỹ về nhiều mặt như phong thủy, phong cách nghệ thuật. Với những giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, hầu hết lăng mộ ở Bắc Giang đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Dù vậy cho đến nay các khu lăng mộ đá này dường như vẫn bị chìm sâu trong giấc ngủ dài đã mấy trăm năm.

Tỉnh Bắc Giang hiện vẫn chưa có hướng đi cụ thể nào để quảng bá, thu hút du khách cũng như bảo vệ các di sản này.

Tỉnh Bắc Giang hiện có 46 lăng đá cổ, trong đó phần lớn tập trung tại huyện Hiệp Hòa với 26 lăng, huyện Việt Yên 11 lăng, huyện Tân Yên 5 lăng... Theo tiến sĩ Nguyễn Huy Hạnh - nguyên phó giám đốc Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, các khu lăng mộ Bắc Giang có thể xem là một “bảo tàng đá” tiêu biểu cho nghệ thuật xây dựng và điêu khắc lăng mộ đã phát triển đến đỉnh cao thời nhà Lê và giữ vị trí quan trọng trong nền kiến trúc - điêu khắc lăng tẩm VN.

Cổng vòm vào lăng mộ họ Ngọ - Ảnh: Kim Sa
Tượng quan hầu ở lăng Nội Dinh - Ảnh: Kim Sa

Suối Tiên lọt vào top 12 công viên được yêu thích nhất thế giới

Khu du lịch văn hóa Suối Tiên của Việt Nam vừa lọt vào danh sách 12 công viên được yêu thích nhất trên thế giới, do trang The Traveler zone bình chọn.

Theo đó, vị trí số 1 thuộc về công viên Magic Kingdom tại Disney World – Orlando, Florida (Mỹ) và tiếp sau là công viên quần đảo phiêu lưu – Florida (Mỹ); công viên Cedar Point – Ohio (Mỹ); công viên Epcot – Orlando (Mỹ); công viên Blackpool Pleasure Beach – Lancashire (Anh); công viên cảng Aventura (Tây Ban Nha); công viên Europa (Đức); công viên Tivovi Gadens (Đan Mạch); công viên Tokyo Disneyland (Nhật Bản); công viên Ocean Park (Hồng Kông) và Khu du lịch văn hóa Suối Tiên (Việt Nam).

Khu du lịch văn hóa Suối Tiên tọa lạc tại quận 9 (TP HCM), chính thức mở cửa đón du khách vào ngày 2/9/1995, nhân kỷ niệm Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam.

Đến Suối Tiên, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy phong cách kiến trúc và các loại hình vui chơi giải trí được lồng vào các hình ảnh lịch sử và truyền thuyết Việt Nam như: Lạc Long Quân - Âu Cơ, Vua Hùng, Sơn Tinh - Thủy Tinh, chín tầng địa ngục, tứ linh hội tụ Long - Lân - Quy - Phụng, công viên tâm linh, công viên giải trí dưới nước và đặc biệt là biển Tiên Đồng - biển nhân tạo đầu tiên ở Việt Nam.

Hà Nội – Những dấu ấn không phai

Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của đất nước – đang đứng trước thời khắc lịch sử kỷ niệm 57 năm ngày giải phóng (10/10/1954 – 10/10/2011). Trải qua bao biến động và thách thức, Hà Nội đang không ngừng phát triển và khẳng định vị thế là một trong những trung tâm du lịch lớn nhất cả nước.

Khí hậu Hà Nội mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa ẩm, mỗi năm có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Đặc biệt, vẻ đẹp của mùa thu Hà Nội với mùi thơm nồng nàn của hoa sữa hay màu xanh của những mẹt cốm làng Vòng… đã trở thành cảm hứng sáng tác của biết bao văn nghệ sỹ.

Hồ Gươm một chiều thu

Dưới triều đại Lý, Trần, Lê, Hà Nội là kinh đô của nước Đại Việt với tên gọi Thăng Long (tức rồng bay). Nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử - văn hóa ghi lại dấu ấn của quá trình dựng nước và giữ nước cũng như những truyền thuyết về mảnh đất ngàn năm văn hiến. Gắn liền với các di tích này là những lễ hội dân gian phong phú, đặc sắc thể hiện bề dầy lịch sử và truyền thống văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Trong đó, Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, hội Gióng ở đền Phù Đồng và đền Sóc cùng 82 bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và di sản tư liệu thế giới.

Di tích Đoan Môn

Hà Nội còn có một di sản kiến trúc mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc với những ngôi nhà cổ dạng ống, đó là khu phố cổ Hà Nội. Nơi đây tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành nên những phố nghề đặc trưng với chữ "Hàng" đằng trước như Hàng Đồng, Hàng Gai... Vì vậy, Hà Nội còn được gọi là Hà Nội 36 phố phường với ý nghĩa phường là nơi tập trung những người làm cùng một nghề thủ công, bán cùng một mặt hàng. Những mặt hàng được buôn bán ở đây chủ yếu có nguồn gốc từ các làng nghề truyền thống của Hà Nội – nơi in đậm những giá trị văn hóa, lịch sử với tuổi đời hàng trăm năm. Hiện nay, ở Hà Nội có đến 272 làng nghề được công nhận làng nghề truyền thống.

Nhà cổ 87 Mã Mây

Bên cạnh vẻ đẹp vừa cổ kính vừa hiện đại, Hà Nội còn mang dáng dấp của một thành phố thân thiện với môi trường bởi có rất nhiều cây xanh và thắng cảnh đẹp. Nhưng không chỉ có vậy, ẩm thực Hà Nội với những món ăn như phở, chả cá, bún ốc, bánh cuốn… cũng sẽ tạo nên ấn tượng khó quên cho du khách khi đến với mảnh đất này. Mỗi món ăn ở đây đều có hương vị, nét đẹp riêng và là kết tinh những giá trị tinh túy của văn hóa ẩm thực Việt Nam.

Chùa Trấn Quốc - Hồ Tây

Nếu có dịp, du khách hãy đến với Hà Nội - Thành phố vì hòa bình để cảm nhận sự thanh bình, yên ả nhưng không kém phần hấp dẫn của một thủ đô đang trong quá trình hội nhập quốc tế.

Chùa Nhẫm Dương và sự độc đáo của các hang động ở Duy Tân (Hải Dương)

Những di cốt hóa thạch và các hang động không chỉ có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa quốc gia mà còn mang ý nghĩa quốc tế.


Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương và một số hang động, nằm ở thôn Nhẫm Dương, xã Duy Tân, huyện Kinh Môn (Hải Dương). Vào đầu thế kỷ XIX, thôn Nhẫm Dương thuộc xã Duyên Linh, tổng Thượng Chiểu, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các thôn Kim Bào, Trại Xanh, xã Châu Xá, xã Duyên Linh hợp nhất, lấy tên là xã Duy Tân cho đến nay.

Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương và các hang động tại khu vực núi đá vôi xã Duy Tân được hình thành do sự biến đổi của tự nhiên từ hàng triệu năm trước. Hệ thống núi đá vôi, các hang động và cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ là những kiệt tác đẹp hiếm có của Hải Dương và cả nước. Khu di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 15/QĐ- BVHTT ngày 14/4/2003 của Bộ Văn hóa- Thông tin.

Chùa Nhẫm Dương có tên tự là Thánh Quang . Đây là ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thời Trần, thờ phật, đến thế kỷ XVII, chùa là nơi tu hành của thủy tổ thiền phái Tào Động do sư Thủy Nguyệt trụ trì. Chùa còn mang tên thôn Nhẫm Dương, nhân dân gọi tắt là chùa Nhẫm.

Di tích khảo cổ học chùa Nhẫm có hai hang quan trọng: hang Thánh Hóa nằm về phía Tây của chùa và hang Tối nằm tại sườn núi phía Tây Bắc, cách chùa chừng 250 m. Hệ thống hang động trên núi thuộc địa bàn xã Duy Tân gồm 26 hang lớn nhỏ, chủ yếu nằm về phía Tây Bắc, phía Tây Nam và phía Đông Bắc của chùa.

Duy Tân là một xã thuộc vùng bán sơn địa, nơi có địa hình đa dạng, ngoài ruộng canh tác, ao, sông, hồ, Duy Tân còn có một số dãy núi đá vôi, đồi đất nằm tập trung ở thôn Nhẫm Dương. Với địa hình đa dạng như vậy, người dân nơi đây có khá nhiều ngành nghề khác nhau nhưng nhìn chung vẫn lấy nghề nông là nghề chính của mình. Trước đây, khi rừng chưa cạn kiệt, nơi đây còn có nghề săn bắn, gần đây do nhu cầu của thị trường mà nghề khai thác đá làm vật liệu xây dựng khá phát triển, do đó đã nâng cao đời sống của nhân dân địa phương.

Là một xã có khá nhiều di tích lịch sử - văn hóa, trước đây, các thôn đều có đình, chùa, riêng thôn Kim Bào có nhà thờ Thiên chúa giáo, là họ lẻ của xứ đạo Minh Hòa, thuộc địa phận Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp nhiều đình, chùa, đền, miếu bị hủy hoại, kể cả chùa Nhẫm Dương. Hiện nay, một số di tích đã được khôi phục lại, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Duy Tân có hệ thống hang động gắn với chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Các hang như hang Mạt, hang Ma, hang Trâu, Thung Xanh, Thung Thóc, hang Đình, hang Bò Lê... đều gắn với các sự kiện trong cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của địa phương, nhiều hang động là nơi đóng quân và là bệnh viện của Quân y viện 7 quân khu III. Những sự kiện lịch sử, những chiến công oanh liệt xảy ra ở đây đã, đang và mãi mãi không phai mờ trong tâm thức của người dân Duy Tân.

Trong hệ thống hang động, quan trọng nhất là hai hang: Hang Thánh Hóa và hang Tối là những hang phát hiện nhiều hiện vật khảo cổ học, khẳng định cho sự phát triển của loài người từ hàng vạn năm trước.
Hang (động) Thánh Hóa nằm ở chân núi sau chùa Nhẫm Dương, hang có diện tích khoảng 100 m2, từ cửa hang tới cuối hang theo hướng nhỏ dần. Trên đỉnh hang có nhiều thạch nhũ với muôn hình muôn vẻ, càng về cuối lòng hang càng hẹp và tối, cho đến nay chưa ai xác định được hang còn sâu đến mức nào? Vì cuối hang vẫn còn khá nhiều hóa thạch trên vách.

Trong những năm 1996 - 1997, khi sửa sang hang Thánh Hóa, nhân dân đã tìm thấy nhiều tượng phật có niên đại thời Nguyễn (thế kỷ XIX) chất liệu đá, đã được cất dấu trong kháng chiến. Đặc biệt, từ năm 1999 đến năm 2001, nhân dân và nhà sư trụ trì đã phát hiện nhiều di vật lạ, đã báo cáo lên cơ quan chuyên môn để xác định. Bảo tàng Hải Dương đã có nhiều cuộc thám sát, nghiên cứu và đã có những nhận định ban đầu: Hang Thánh Hóa có dấu vết từ thời tiền sử. Trong hai năm 2000 và 2001, Bảo tàng Hải Dương đã kết hợp với Viện Khảo cổ, Viện Nghiên cứu địa chất đã tiến hành nhiều cuộc thám sát, điền dã, nghiên cứu và kết luận: Hang Thánh Hóa là di tích khảo cổ học quan trọng của cả nước. Tại đây, đã tìm được di cốt hóa thạch của 27 loài động vật như: Voi, tê giác, hổ, báo, lợn rừng, nhím...và đặc biệt tìm thấy khá nhiều răng Pôngô (đười ươi). Theo giám định của Viện Khảo cổ học thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, thì những hóa thạch và di vật đó cách ngày nay từ 3 vạn đến 5 vạn năm. Hiện nay, động Thánh Hóa có tầng văn hóa dầy 4m, chắc chắn sẽ có nhiều di vật quý mà chúng ta chưa phát hiện được, nếu tiếp tục khai quật sẽ mang lại nhiều kết luận quan trọng về sự phát triển của loài người.

- Hang Tối: Hang được gọi theo tên gọi của nhân dân địa phương vì hang có nhiều ngách và rất tối. Hang nằm bên sườn núi phía Tây Bắc chùa Nhẫm Dương. Trong kháng chiến chống Pháp, hang Tối là nơi ẩn náu của cán bộ cách mạng. Những chiến sĩ đã phát hiện ra một số hiện vật lạ như rìu và giáo đồng. Nhưng đã rất nhiều năm, không ai báo cáo tới các cơ quan chuyên môn về những hiện vật đó. Đến năm 2001, Bảo tàng Hải Dương đã quyết định thám sát hang Tối để nghiên cứu, càng vào sâu, lòng hang càng rộng và tối, đặc biệt tại đỉnh hang có nhiều thạch nhũ đẹp. Tại đây, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số hiện vật như rìu đồng có vai, thạp đồng, lưỡi xéo đồng, các hiện vật trên thuộc nền văn hóa Đông Sơn. Hang Tối có khả năng là di chỉ có niên đại thuộc hậu kỳ đá cũ. Trong tương lai, nếu khai quật lớn sẽ có nhiều tài liệu khảo cổ học quan trọng. Ngoài ra, tại khu vực núi Nhẫm Dương, nhân dân đã tìm thấy rìu đá, các công cụ bằng đá cuội, lõi khoan, hòn mài, đá mài và rìu thuộc thời đại đồ đá mới.

Các công trình nghiên cứu khảo cổ học thông qua các cuộc thám sát, điền dã và hệ thống các hiện vật khảo cổ đã khẳng định hang Thánh Hóa và hang Tối là các di chỉ khảo cổ học quan trọng, cần được bảo vệ và khai quật để nghiên cứu. Cho đến nay chúng ta đã thu được hàng vạn hiện vật tại hai hang này, chủ yếu là hóa thạch của các loài động vật có niên đại từ hàng vạn năm trước. Đây là các tài liệu quan trọng trong việc xác định địa chất và diện mạo khu vực núi đá Nhẫm Dương trong lịch sử.

Hệ thống hang động ở xã Duy Tân khá dầy đặc, nhân dân địa phương đã phát hiện được 26 hang động lớn nhỏ, nằm trên dãy núi đá vôi. Đến nay, nhiều hang động không còn do khai thác đá. Tuy nhiên, trong ký ức của cán bộ và nhân dân địa phương, những hang động đó đã từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng không thể phai mờ.

Từ những năm 1948 - 1949 - 1951, tại hang Thánh Hóa đã có nhiều đơn vị về đóng quân, đồng chí Lê Thanh Nghị và đồng chí Hoàng Quốc Việt đã dùng hang làm trụ sở chỉ huy của Đệ tứ chiến khu Đông Triều. Cũng tại đây, huyện ủy Kinh Môn tổ chức hai cuộc họp vào tháng 7 và tháng 9 năm 1947, nhằm đối phó với âm mưu đánh chiếm của địch.

Tại hang Ma: Tương truyền từ thời xa xưa, khi giặc phương Bắc sang chiếm nước ta, chúng dồn dân vào hang sâu, dùng rơm hun chết rất nhiều người, vì thế, nhân dân gọi tên là hang Ma. Trong kháng chiến, hang là nơi trú quân của bộ đội huyện và tỉnh.

Nằm ở phía Tây chùa Nhẫm Dương, hang Mạt trong kháng chiến chống Pháp nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu gay go ác liệt, trên đỉnh núi quân ta cắm cờ, giặc bắn gẫy, ta lại cắm lên, cứ như vậy quân giặc phải chịu lui.

Thung Xanh nằm ở phía Đông chùa, nơi đây là căn cứ đóng quân của du kích địa phương. Thung Xanh chứng kiến nhiều cuộc chiến đấu anh dũng của lực lượng dân quân du kích, nay hễ nói đến địa danh này đều nhớ câu:

“Đây Thung Xanh còn tanh máu giặc” hay “Đất mẹ anh hùng, Thung Xanh còn đó” hoặc “Trong hang tối vẫn sáng ngời”...

Một số hang như hang Đình, hang Lợn, hang Bò Lê, hang Thóc... là những hang rất rộng và là căn cứ đóng quân của bộ đội trong kháng chiến chống Pháp. Từ năm 1965 đến năm 1973, một số hang động trên núi là địa điểm đóng quân của Quân y viện 7 quân khu III.

Cùng với hệ thống hang động, chùa Nhẫm Dương được coi là chốn tổ của Thiền phái Tào Động do vị sư tổ Thủy Nguyệt đứng đầu. Di tích có qui mô lớn, được khởi dựng từ thời Trần, chùa được tôn tạo khá sầm uất vào thời Lê và thời Nguyễn. Năm 1952, chùa bị thực dân Pháp tàn phá nặng nề. Sau ngày hòa bình lập lại (1954), nhân dân dựng chùa bằng tranh, tre, nứa lá để làm nơi thờ Phật. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975), nhà sư trụ trì cùng tín đồ phật tử xây lại chùa bằng gạch, lợp ngói với qui mô nhỏ. Năm 1996, bằng nguồn vốn của nhân dân địa phương và công đức của khách thập phương, chùa được trùng tu với qui mô lớn, kiến trúc kiểu chữ Công (I), chất liệu bằng gạch ngói, bê tông cốt thép chắc chắn và nghệ thuật. Trong những năm tới, nhiều công trình phụ trợ sẽ được xây dựng, trở thành trung tâm phật giáo của xã và khu vực. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày 6 tháng 3 âm lịch, thu hút hàng vạn lượt khách trong và ngoài tỉnh.

Khu hang động khảo cổ học chùa Nhẫm Dương với các hiện vật quí giá đã khẳng định tiến trình lịch sử của tự nhiên và con người từ thời đại đồ đá, thời đại kim khí, thời đại phong kiến và thời kỳ hiện đại. Những di cốt hóa thạch trong hang Thánh Hóa, những di vật của văn hóa Đông Sơn tìm được trong hang Tối không chỉ có ý nghĩa về lịch sử và văn hóa quốc gia, mà nó còn mang ý nghĩa quốc tế.

Khu vực núi Nhẫm Dương là dãy núi hình thành do biến đổi của tự nhiên từ hàng triệu năm trước, tạo thành cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có nhiều hang động và môi trường sinh thái hấp dẫn. Khu vực núi Nhẫm Dương đã được người xưa ca ngợi là “danh lam cổ tích”, ngày nay có thể phát triển ngành du lịch Việt Nam.

Căn cứ vào giá trị của di tích, UBND tỉnh đã quyết định khoanh vùng 34,23ha diện tích núi có nhiều hang động và chùa Nhẫm Dương.

Từ sau khi được xếp hạng, Ban quản lý di tích của xã được thành lập, việc bảo vệ và phát huy tác dụng của di tích được tăng cường. Đặc biệt, vai trò của nhà sư trụ trì có ảnh hưởng lớn đến việc khôi phục, tôn tạo và bảo vệ di tích. Trong những năm tới, di tích từng bước được qui hoạch, bảo tồn và phát huy tác dụng, góp phần tích cực giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới.